Trong trường thiên lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam là hình tượng đặc biệt của sự bền bỉ, thích ứng và hi sinh thầm lặng. Có những người được tôn vinh xứng đáng, nhưng lại có những người chịu nỗi oan khuất cả nghìn năm.

Nỗi oan
Có một nhà thơ đã từng viết:
Tôi kể người nghe chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để lên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
Minh oan
Nhà thơ Đỗ Trung Lai có bài thơ Lời Mị Châu, cũng là lời minh oan cho nàng. Nhà thơ kể câu chuyện như sau:
Đêm khuya. Gió bấc. Mưa phùn. Chợt một người con gái đến bên đầu giường tôi, khóc, rồi than rằng:
– Sao các nhà thơ ta bất công thế này!
– Chúng tôi đã làm gì mà em bảo chúng tôi bất công? – Tôi hỏi lại.
– Thì đấy, mấy trăm năm nay, các anh chỉ một mực khóc thương Vương Thuý Kiều. Lại còn đồng thanh bảo rằng, đó là một người đàn bà khổ nhất giời Nam.
– Nàng ấy không khổ thì còn ai khổ nữa?
– Sao lại nói thế được? Nàng ấy yêu và được yêu, được hẹn thề: Tóc mây một món dao vàng chia đôi. Bán mình chuộc cha là tự nguyện. Mười lăm năm lưu lạc cũng còn được nương bóng vua Từ Hải, được nhờ túi phong lưu của chàng Thúc. Sau lại được tái hồi Kim Trọng: Hoa tàn mà lại thêm tươi – Trăng tàn mà lại hơn mười lần xưa. Thân thì thế, danh thì ông Tiên Điền bênh cho: Chữ trinh kia cũng có ba, bảy đường; Rằng nàng lấy hiếu làm trinh. Thế là thân, danh đều vẹn. Nàng ấy khổ sao bằng em được.
Tôi giật mình vội hỏi:
– Thế chuyện của em ra sao?
– Em bị gả cho thằng gián điệp! Quay đi quay lại chưa hiểu ra sao thì bị chém đầu. Mà người chém, trời ơi, lại là cha mình!
Nói rồi cứ khóc mãi không thôi, trong nước mắt hình như có máu.
Tôi nhìn kỹ, đó là một nàng chừng tuổi trăng tròn, mặt hoa da phấn, cốt cách lá ngọc cành vàng, trên mình khoác chiếc áo lông ngỗng. Chợt hiểu, tôi bảo:
– Ra em là Mị Châu đấy ư? Đúng rồi, em mới là người đàn bà khổ nhất giời Nam!
Nàng ấy nghe, nét mặt có vui lên một chút.
Khi tỉnh hẳn, chỉ còn mình tôi trong phòng. Trên bàn viết có mấy lông ngỗng trắng tinh. Lấy làm lạ, tôi cầm một chiếc lông ngỗng làm bút, viết bài thơ này tạ lỗi Mị Châu:
Cha ơi! Cha chọn rể
Cha đắp luỹ xây thành
Mà sao khi nước mất
Cha xử con tội hình?
Thần rùa biết cơ giời
Cớ sao còn tặng nỏ?
Sao nỡ trỏ vào em:
– Giặc đằng sau vua đó!
Chàng đã phụ đời ta
Từ khi chưa gặp mặt
Chuyện tình thành Cổ Loa
Đau trước ngày thứ nhất!
Sống cũng chẳng được nào:
Nước mất! Tình cũng mất!
Nhưng chết dưới gươm cha
Thì ngàn năm oan nghiệt!
Nỗi oan này hoá ngọc
Dưới chín tầng bể sâu
Thần với người đâu cả
Bao giờ thì biết yêu?
Lịch sử lặp lại
Dù sống cách xa nhau về thời gian, nhưng ở An Dương Vương Thục Phán và Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục lại có nhiều điểm trùng hợp đến kỳ lạ.
An Dương Vương – Triệu Đà – Trọng Thủy – Mị Châu: Không xâm lược được nước Âu Lạc, Nam Việt Vương Triệu Đà giả thác hòa thân, dùng con bài hôn nhân chính trị để cướp nước. Trọng Thuỷ con Triệu Đà kết hôn với công chúa Mị Châu của An Dương Vương. An Dương Vương vì trọng hòa bình, hữu hảo mà tác thành, lại cho Trọng Thuỷ theo cái tục “Chuế tế” – ở gửi rể. Để rồi từ đây, Mị Châu với tình yêu dành cho chồng đã tiết lộ hết bí mật quân sự (móng rùa thần), quốc gia cho Trọng Thuỷ, An Dương Vương mất nước.
Triệu Việt Vương – Lý Phật Tử – Nhã Lang – Cảo Nương: Vết xe đổ xảy ra ở thế kỷ 2 TCN của An Dương Vương còn đó, nhưng Triệu Việt Vương vẫn dẫm vào. Sau khi đánh đuổi quân Lương, Triệu Việt Vương giao tranh với Lý Phật Tử (vốn là bộ tướng của Lý Thiên Bảo là anh của Lý Bí) rồi vạch đôi sơn hà cai trị. Lý Phật Tử cũng như Triệu Đà, cho con trai mình Nhã Lang kết hôn với công chúa Cảo Nương của Triệu Việt Vương rồi đánh cắp bí mật quân sự (móng rồng) để rồi cướp nước. Năm Canh Dần, (570), Triệu Việt Vương mất nước về tay Lý Phật Tử. Dù ở hai thời khác nhau, nhưng An Dương Vương và Triệu Việt Vương đều bị kẻ thù lừa cùng một kịch bản: Hôn nhân, gửi rể – vợ tiết lộ bí mật quân sự cho chồng – thông gia cướp nước.
Mất nước, cả An Dương Vương, Triệu Việt Vương đều đem theo con gái yêu chạy về nam và cùng tìm đến biển làm nơi tự tận. An Dương Vương “xuống biển” ở xã Cao Xá ở Diễn Châu, Nghệ An. Còn Triệu Việt Vương chết ở cửa biển Đại Nha, nay thuộc Nghĩa Hưng, Nam Định. Cái chết của An Dương Vương cùng việc mất nước Âu Lạc mở đầu cho thời kỳ hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Còn Triệu Việt Vương mất nước, chỉ thời gian ngắn sau, với việc Lý Phật Tử hàng Tuỳ, nước ta lại rơi vào thân phận nô lệ.
Thay lời kết
Đêm mùa hạ, tự rót cho mình một ly rượu, nâng lên, uống cạn, tự nhiên trong đầu tôi lại bật ra mấy câu thơ, thay cho lời kết:
Hai ngàn năm bãi biển hoá nương dâu
Tổ quốc lúc yên bình, lúc bão giông giặc giã
Xin đừng trách người phụ nữ nào cả
Tình yêu chân thành, chẳng có tội gì đâu!




