09/5/1945 – 09/5/2025
Năm 1926, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, một số thanh niên Việt Nam yêu nước đã được gửi sang Liên Xô học tập. Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, một số trong nhóm này đã quyết định gia nhập Hồng quân Liên Xô, tham gia chiến đấu và hầu hết đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô Moskva năm 1941.
Họ đã tham gia vào cuộc duyệt binh lịch sử của Hồng quân Liên Xô trên Quảng trường Đỏ vào ngày 07/11/1941, và từ đó tiến thẳng ra mặt trận chiến đấu.

Những người con Việt Nam này gồm:
1. Vương Thúc Liên, bí danh là Vương Thúc Tình (Vương Sĩ), sinh năm 1903 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Ông tham gia Lữ đoàn OMSBON và đã ngã xuống khi chiến đấu bảo vệ Moskva năm 1941. Năm 1985, ông được Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
2. Hoàng Thế Tư (Hoàng Anh Tô), bí danh là Lý Anh Tạo, sinh năm 1910 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Cha ông là Hoàng Hinh mất sớm, ông được nuôi dạy bởi người chú là Hoàng Xuân Tống. Ông tham gia Lữ đoàn OMSBON và đã ngã xuống khi chiến đấu bảo vệ Moskva năm 1941. Năm 1985, ông được Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
3. Nguyễn Sinh Thân, bí danh là Lý Nam Thanh, sinh năm 1908 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Lý Nam Thanh là bí danh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Cha ông là Nguyễn Sinh Ly đã hy sinh trong cuộc cách mạng chống thực dân Pháp. Anh trai cả của ông là Nguyễn Sinh Diễn, từng là Phó Bí thư tỉnh ủy bí mật của Nghệ An, tham gia Xô Viết Nghệ Tĩnh, bị giam cầm và qua đời năm 1936 trong nhà tù thực dân Pháp. Ông tham gia Lữ đoàn OMSBON và đã ngã xuống khi chiến đấu bảo vệ Moskva năm 1941. Năm 1985, ông được Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
4. Vương Thúc Toại, bí danh là Lý Thúc Chất, sinh năm 1910 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Lý Thúc Chất là bí danh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Cha ông là Vương Thúc Đàm, huyện ủy viên Nam Đàn, năm 1930 bị thực dân Pháp bắt tù chung thân. Ông tham gia Lữ đoàn OMSBON và đã ngã xuống khi chiến đấu bảo vệ Moskva năm 1941. Năm 1985, ông được Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
5. Đinh Trường Long, bí danh là Lý Văn Minh, sinh năm 1910 tại Hải Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa. Sau khi đồng đội hy sinh, họ tiếp tục cầm súng chiến đấu chống phát xít. Hiện chưa có nhiều tài liệu về ông.
6. Ngô Chí Thông, bí danh là Lý Chí Thông, sinh năm 1910 tại Thạch Minh, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Sau khi đồng đội hy sinh, họ tiếp tục cầm súng chiến đấu chống phát xít. Hiện chưa có nhiều tài liệu về ông.
7. Lê Phan Chăn (Lê Phan Chấn, Lê Tư Lạc), bí danh là Lý Phú San, sinh năm 1900 tại Tân Ước, Thanh Oai, Hà Đông, Hà Nội. Năm 1917, ông rời làng quê ra Hà Nội, rồi vào Sài Gòn, sang Phnompenh. Ở đó, ông làm thuê cho một bác sĩ người Pháp và năm 1924 cùng ông chủ này đi Paris. Chính ở Thủ đô nước Pháp, ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bắt đầu hoạt động cách mạng. Lý Phú San là bí danh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Năm 1941, ông xin nhập ngũ nhưng do sức khỏe yếu nên được phân công về hậu phương để làm công tác quân y. Năm 1956, ông trở về Tổ quốc và qua đời năm 1980 tại Hà Nội. Năm 1985, ông được Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.
8-9… Và có thể còn những người con nữa mà thời gian sẽ tiếp tục làm rõ!
Xin kính cẩn thắp nén hương tưởng nhớ tới những người con đất Việt đã tham gia làm nghĩa vụ quốc tế!
Không ai bị lãng quên và không có gì bị lãng quên!
Giáp trận
Ai có thể chết thì đã chết,
Ai sống sót thì sẽ bất diệt,
Đời nối đời vang mãi tiếng thơm,
Và cháu chắt không thể bị gườm gườm.
Lao vào trận sắp sửa là trận cuối
Vai sát vai với những người bạn mới
Chúng ta đi, cánh quân khác mở ra.
Thì những người thân sẽ chẳng quên ta!
Hạnh phúc thay, người nào từng nếm trải
Những chiến công hiển hách hơn người,
Từng rịt vết thương, băng lên phía trước
Quyết chiến cùng ta có cả đất trời.
Vinh dự đâu là lời nói gió bay,
Mà giản dị hơn ánh trời, cho tất thảy
Mà cuộc sống này – thảo dược thì đầy rẫy
Trước rừng kia – bát ngát xôn xao.
1944
Thơ Ác-xê-nhi Ta-cốp-xky (1907-1989), dịch giả Đăng Bảy.




