Vây thành diệt viện

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt
Hào kiệt công danh đất ấy từng
                         Thơ Nguyễn Trãi

Nhà Minh, bắt đầu từ thời Minh Thành Tổ Chu Đệ, thiết lập ách thống trị 20 năm ở nước ta, từ năm 1407 đến năm 1427. Trong suốt 20 năm đó, nhà Minh nhiều lần gửi viện binh tăng cường để đàn áp các cuộc khởi nghĩa.

Đặc biệt, vào tháng 01 năm Đinh Mùi 1427, nhà Minh quyết định đưa 15 vạn quân chia 2 đường tiến sang cứu viện Vương Thông đang co cụm trong thành Đông Quan (Hà Nội ngày nay).

Đến tháng 9 năm 1427 thì 2 đạo quân này đã áp sát biên giới. Cộng với khoảng 15 vạn quân đang đồn trú trong nước, có tổng cộng 30 vạn quân Minh chiếm đóng và đe dọa bẻ gãy lực lượng giải phóng của Bình Định Vương Lê Lợi.

Lúc này, Bình Định Vương Lê Lợi có cũng có khoảng tổng cộng 30 vạn binh, nhưng phải chia nhau ra tác chiến và bảo vệ các cứ điểm trên một địa bàn rộng lớn từ biên giới phía Bắc tới tận miền Trung ngày nay.

Một trận quyết chiến chiến lược đã xảy ra trong tháng 10 năm 1427. Bình Định Vương Lê Lợi đã bẻ gãy hoàn toàn 2 đạo viện binh nhà Minh. Đây là điểm ngoặt, dẫn đến Hội thề Đông quan vào tháng 11 năm 1427, mở ra một thời kỳ độc lập – tự chủ của Đất nước.

Bối cảnh tổng thể

Khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, trải qua gần 10 năm nằm gai nếm mật, nghĩa quân đã lớn mạnh. Sau chiến thắng Tốt Động – Chúc Động năm 1426, nghĩa quân giành thế chủ động hoàn toàn trên chiến trường, còn quân Minh phải chuyển hẳn sang thế phòng ngự bị động, co cụm chủ yếu ở thành Đông Quan.

Bố cục chính của quân Minh gồm 3 đạo quân chủ lực ở thời điểm tháng 01/1427 như sau:

1. Đạo quân Vương Thông đóng ở Đông Quan với khoảng 10 vạn quân tinh nhuệ. Vương Thông là võ tướng thân tín của Minh Thành Tổ Chu Đệ, theo giúp Chu Đệ giành ngôi vua từ tay người cháu ruột của Chu Đệ là Chu Doãn Văn. Đạo quân này đang ở tình thế bị vây hãm trong thành Đông Quan chờ cứu viện tới.

2. Đạo viện binh do Liễu Thăng chỉ huy, gồm khoảng 10 vạn quân tinh nhuệ, đang chuẩn bị để tiến vào nước ta từ hướng Quảng Tây, lộ trình hành quân dự kiến theo trục Pha Lũy, Khâu Ôn, Chi Lăng, Xương Giang, Đông Quan (mũi tên màu xanh trên bản đồ).

Liễu Thăng cũng là võ tướng thân tín của Chu Đệ. Năm 1406, Liễu Thăng là tùy tướng của Trương Phụ lần đầu sang đánh nước Việt, chính là người đã đem quân đuổi theo và bắt cha con Hồ Quý Ly ở cửa biển Kỳ La, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Năm 1409, Liễu Thăng chỉ huy thủy quân đánh trận, đại phá cướp biển Nhật Bản trên biển phía đông. Năm 1410, Liễu Thăng chỉ huy kỵ binh đánh trận, đại phá tướng Mông Cổ là A Lỗ Đài trên thảo nguyên phía bắc. Đây là viên tướng toàn tài, dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Cùng đi theo đạo quân này, nhà Minh còn phái những quan lại cao cấp rất am hiểu tình hình nước Việt như Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc, Binh bộ Thượng thư Lý Khánh và tên Việt gian hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân.

3. Đạo viện binh do Mộc Thạch chỉ huy, gồm khoảng 5 vạn quân tinh nhuệ, đang chuẩn bị để tiến vào nước ta từ hướng Vân Nam, hành quân theo trục Lê Hoa, Tam Giang, Việt Trì, Đông Quan (mũi tên màu xanh trên bản đồ).

Mộc Thạch là con trai thứ của Mộc Anh, là võ tướng thân tín của Chu Nguyên Chương. Gia tộc họ Mộc được hoàng đế nhà Minh tin tưởng giao quyền trấn giữ toàn bộ miền Tây của Trung Quốc thời bấy giờ, đóng thủ phủ ở Vân Nam. Năm 1406, Mộc Thạch là phó tướng của Trương Phụ lần đầu sang đánh nước Việt, từng chỉ huy trận đánh chiếm thành Đa Bang, từng bị nghĩa quân của Trần Ngỗi đánh bại tại trận Bồ Cô (trên bờ sông Đáy) năm 1408. Đây là viên tướng lão luyện, dày dặn kinh nghiệm trận mạc, đặc biệt là kinh nghiệm tác chiến ở nước Việt.

Trích Bình Ngô Đại Cáo

Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng 
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy 
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại 
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Vây thành diệt viện

Bộ chỉ huy Nghĩa quân Lam Sơn bàn bạc, xác định chiến lược tác chiến. Lúc này, có 2 phương án chiến lược chính. Phương án 1 là dốc sức nhanh chóng đánh hạ thành Đông Quan, rồi sau đó mới dốc toàn lực phá tan viện binh nhà Minh. Phương án 2 là không dốc sức đánh hạ thành Đông Quan, mà tập trung lực lượng tiêu diệt các đạo viện binh trước.

Bộ chỉ huy Nghĩa quân Lam Sơn, cụ thể là Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đã chọn chiến lược tác chiến: “Đánh thành Đông Quan là hạ sách, ta đánh vào thành vững hàng tháng, hàng năm không hạ nổi. Quân ta sức mòn khí nhụt, nếu viện binh của giặc tới thì trước mặt sau lưng ta đều bị địch đánh. Đó là thế nguy. Sao bằng nuôi oai chứa sức, đợi quân cứu viện, viện binh dứt thì thành tất phải hàng”. Đây chính là sách lược tác chiến “vây thành diệt viện”. Một mặt, vây chặt thành Đông Quan. Mặt khác, tiêu diệt các đạo viện binh.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là chiến thuật đón đánh 2 đạo viện binh. Đạo quân Liễu Thăng có 10 vạn quân. Đạo quân Mộc Thạch có 5 vạn quân. Nghĩa quân Lam Sơn tuy có 30 vạn quân nhưng còn phải chia ra làm bao vây 10 vạn quân Minh ở Đông Quan, 5 vạn quân Minh đóng rải rác ở các thành trì khác và bảo vệ cả một hậu phương rộng lớn. Vì thế, Bộ chỉ huy Nghĩa quân Lam Sơn đã xác định là phải tập trung nghênh đánh từng đạo viện binh một thay vì cùng lúc đón đánh trên cả 2 hướng.

Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã đưa ra phán đoán rất trúng: Mộc Thạch lớn tuổi hơn, lão luyện, trải việc đã nhiều, vốn đã nghe tiếng ta (hút chết sau trận Bồ Cô năm 1408), lại ở vai phối hợp, tất sẽ ngồi xem Liễu Thăng thành bại chứ không dám khinh động. Ngược lại, Liễu Thăng tuổi trẻ, khí thịnh, lại vốn khinh ta, nên sẽ chủ quan nôn nóng lập công.

Vì vậy, Bộ chỉ huy Nghĩa quân Lam Sơn đã quyết định chọn đạo quân Liễu Thăng làm đối tượng quyết chiến chủ yếu, tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân này trước và kiềm chế đạo quân Mộc Thạch ở ải Lê Hoa.

Theo đó, chiến lược tác chiến của Nghĩa quân Lam Sơn như sau:

1. Phân công lực lượng bao vây, chặn đứt mọi liên lạc của quân Minh ở thành Đông Quan với bên ngoài thành.

2. Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Trần Nguyên Hãn đem 5 vạn quân bố trí nghênh đánh đạo quân Liễu Thăng. Đây là 5 vạn quân tinh nhuệ. Và chỉ lấy 5 vạn đón đánh 10 vạn để khích tướng Liễu Thăng và làm cho Liễu Thăng thêm chủ quan, khinh địch. Đối với hướng này, Bộ chỉ huy nghĩa quân đặt ra mục tiêu nhanh chóng phải chiếm bằng được toàn bộ các thành trên đường tiến quân của Liễu Thăng trước khi đạo quân này vào biên giới nước ta, gồm các thành Khâu Ôn, Chi Lăng và Xương Giang. Đặc biệt, Xương Giang được chọn làm điểm cuối cùng chặn đứng bước tiến của đạo quân Liễu Thăng về Đông Quan và bao vây tiêu diệt chúng tại Xương Giang.

3. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích đem 5 vạn quân lên ải Lê Hoa, lợi dụng địa hình hiểm trở vùng này làm nhiệm vụ kiềm chế đạo quân Mộc Thạch.

Thành Xương Giang

Thành Xương Giang thuộc vùng đất làng Thành, xã Thọ Xương, thị xã Bắc Giang ngày nay, cách Đông Quan, Hà Nội ngày nay khoảng 50 km.

Từ tháng 1/1427, các tướng lĩnh giỏi nhất của Nghĩa quân Lam Sơn, gồm Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt đã bắt đầu công thành. Khi được tin viện binh nhà Minh sắp sang, Bộ chỉ huy Nghĩa quân Lam Sơn đã tăng cường thêm Trần Nguyên Hãn để phá thành Xương Giang.

Đầu tháng 9/1427, thành Xương Giang bị hạ, 10 ngày trước khi đạo quân Liễu Thăng kéo tới biên giới nước Việt.

Như vậy, trước khi 2 đạo viện binh nhà Minh tiến vào biên giới, Nghĩa quân Lam Sơn đã đạt được bố cục chiến lược mong muốn: Chiếm được toàn bộ các thành trì dọc tuyến biên giới phía Bắc đến thành Đông Quan, trong đó, 3 thành trì quan trọng nhất là Khâu Ôn, Chi Lăng và Xương Giang.

Ải Chi Lăng

Đường vào ải Chi Lăng

Đạo quân 10 vạn của Liễu Thăng, kèm theo hậu cần, sẽ phải hành quân thành một đội hình kéo dài. Trên đường hành quân này, Chi Lăng là cửa ải hiểm trở nhất, là một thung lũng nhỏ, hai đầu nam bắc thu hẹp, hai bên vách núi dựng đứng. Chính vì vậy, nếu lọt vào trận địa Chi Lăng thì tự nhiên như bị bao vây ép chặt vào một túi sâu khó thoát. Chi Lăng được binh gia của cả 2 phía xác định là vùng đất hiểm yếu để dụng binh.

Chiến lược của Nghĩa quân Lam Sơn là nhử Liễu Thăng tiến quân nhanh về phía Chi Lăng để kéo dài thêm đội hình hành quân khi đại bộ phận binh mã và hậu cần của quân Minh không theo kịp và bị bỏ lại phía sau. Phục kích Liễu Thăng tại Chi Lăng, sau đó, đồng loạt phản công đạo quân của Liễu Thăng trên toàn tuyến, cuối cùng, chặn đứng đạo quân này ở trước thành Xương Giang.

Nghĩa quân Lam Sơn phái tướng Trần Lựu tiên phong ở tuyến đầu, giữ ải Pha Lũy. Ở đây, phải nhấn mạnh vai trò của tướng Trần Lựu là đặc biệt quan trọng trong việc nhử địch, kích động thêm tính chủ quan, khinh địch của Liễu Thăng, đồng thời từng bước dẫn dắt Liễu Thăng về phía ải Chi Lăng.

Khi Liễu Thăng tiến vào ải Pha Lũy, Trần Lựu đem quân đánh trực diện rất mạnh vào trung quân của Liễu Thăng rồi nhanh chóng rút lui về giữ Khâu Ôn. Liễu Thăng thúc quân ào ạt truy đuổi. Đúng lúc này, Liễu Thăng nhận được thư của Lê Lợi khuyên Liễu Thăng nên rút quân về biên giới để giữ gìn, nếu Liễu Thăng tiến sâu vào đất Việt thì sẽ bỏ mạng.

Liễu Thăng bỏ qua và tiếp tục ào ạt tiến đánh Khâu Ôn. Một lần nữa, Trần Lựu lại đem quân đánh trực diện rất mạnh vào trung quân của Liễu Thăng rồi nhanh chóng rút lui về Chi Lăng. Liễu Thăng tiếp tục nhận được bức thư thứ 2 của Lê Lợi khuyên lui binh, nếu không sẽ hối không kịp. Liễu Thăng càng tức giận, khinh địch hơn và kiên quyết tiến đánh Chi Lăng.

Lúc này, nhiều tướng lĩnh nhà Minh, trong đó có cả Thượng thư Lý Khánh hết sức can ngăn Liễu Thăng vì lo ngại ải Chi Lăng hiểm yếu. Liễu Thăng trong tư thế đắc thắng lại càng ngạo mạn không nghe lời khuyên.

Trần Lựu đã hết sức tài tình khi liên tục vừa đánh vừa lui trên chặng đường dài 60km để nhử Liễu Thăng nôn nóng đuổi theo và lọt vào trận địa mai phục Chi Lăng.

Ngày 10/10 năm 1427, Trần Lựu lại đem quân ra khiêu chiến rồi thua chạy. Liễu Thăng với tư tưởng chủ quan kiêu ngạo cao độ đã đích thân dẫn quân đuổi theo.

Sau khi tiền quân của Liễu Thăng vào ải Chi Lăng, tướng Lê Bôi của Nghĩa quân Lam Sơn đã nhanh chóng “khép miệng túi”, cử trọng binh đánh tạt ngang ở cửa ải, chia cắt Liễu Thăng đang tiến về phía trước với tốc độ rất nhanh với đạo quân Minh phía sau.

Ải Chi Lăng

Khi ấy, Liễu Thăng cùng hơn 100 quân kỵ binh tinh nhuệ đã truy đuổi Trần Lựu tới chân núi Mã Yên trong ải Chi Lăng. Tại đây, Liễu Thăng đã lọt vào ổ phục kích của Lê Sát và bị chém chết ở chân núi Mã Yên.

Hoàng hôn Ải Bắc

Giữa mười vạn tinh binh, kiêu tướng vẫn rơi đầu 
Ải Chi Lăng thêm một hòn đá xám 
Bóng ma hờ – cánh dơi chiều chạng vạng 
Biển tinh kỳ tơ tướp hóa rừng lau. 

Bao năm qua. Rồi nhiều ngàn năm sau 
Đá giấu mặt nấp sau mây sau cỏ 
Hồn bại tướng vật vờ trong lau gió 
Cõi thâm u khát một giọt cam lồ. 

Hoàng hôn này bên bệ đá nàng Tô 
Vẳng tiếng trẻ khóc cha từ biên ải 
Sương hóa lệ. Cánh dơi chiều chững lại 
Mã Yên sơn vẫn dáng ngựa tung bờm…
                        Thơ Bùi Quang Thanh

Ai đã chém chết Liễu Thăng, đến giờ, vẫn còn là một bí ẩn của lịch sử. Đạo viện binh do Liễu Thăng chỉ huy tuy bị tổn thất nhưng vẫn còn tới 7 vạn quân và vẫn tiến tiếp tới thành Xương Giang. Tại đây, Nghĩa quân Lam Sơn đã bố trí vây chặt 7 vạn quân này ở chiến trường Xương Giang.

Ải Lê Hoa

Đúng như Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã dự đoán. Với sự lão luyện của mình, lại ở vai phối hợp, Mộc Thạch tiến quân rất dè dặt, không ham đánh, không tiến sâu vào lãnh thổ nước Việt mà vừa tiến quân chậm loanh quanh ở vùng biên giới, vừa liên tục cử người dò la, chờ đợi tin tức của đạo quân Liễu Thăng. Nếu như Liễu Thăng chiến thắng thì Mộc Thạch mới tiến quân.

Sau khi Liễu Thăng mất mạng tại Chi Lăng, Nghĩa quân Lam Sơn đã cho người mang bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng gửi tới doanh trại đóng quân của Mộc Thạch. Mộc Thạch nhận được đã vội vàng tổ chức lui quân ngay trong đêm.

Trích Bình Ngô Đại Cáo

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật! 
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân. 
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc 
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.


Nhưng Mộc Thạch đã nhanh chóng rơi vào thế trận phục kích của Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Nguyễn Chích. Toàn quân Mộc Thạch tan vỡ và thất bại nặng nề. Mộc Thạch chạy thoát về Vân Nam.

Chiến thắng Xương Giang

Lúc này, hay tin Mộc Thạch và đạo viện binh thứ 2 đã tan vỡ. Đạo viện binh với 7 vạn quân Minh bị vây ở Xương Giang cũng rơi vào trạng thái hỗn loạn. Khi Nghĩa quân Lam Sơn tổng công kích thì đạo viện binh này cũng nhanh chóng tan vỡ hoàn toàn vào ngày 03/11/1427.

Như vậy, trong thời gian từ ngày 08/10 đến ngày 03/11 năm 1427, toàn bộ 2 đạo viện binh với 15 vạn quân của nhà Minh đã bị tiêu diệt hoàn toàn, kết thúc với chiến thắng Xương Giang.

Trích Bình Ngô Đại Cáo

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Hội thề Đông Quan

Vương Thông và lực lượng quân Minh bị vây hãm trong thành Đông Quan, được tin 2 đạo viện binh đã bị tiêu diệt, thì trở nên tuyệt vọng. Ngày 22/11/1427, Vương Thông xin giảng hòa, rút quân về nước.

Vương Thông và quân Minh phải đến một địa điểm phía nam thành Đông Quan để gặp Lê Lợi. Dưới hình thức hội thề, Vương Thông xin cam kết rút quân về nước.

Bản văn hội thề có giá trị như một hiệp định rút quân.

Trích Bình Ngô Đại Cáo

Xã tắc từ đây vững bền 
Giang sơn từ đây đổi mới 
Càn khôn bĩ rồi lại thái 
Nhật nguyệt hối rồi lại minh 
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu 
Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Leave a reply:

Your email address will not be published.

Site Footer