“An Thư” từ gốc lấy trong cụm từ “Quốc chi an thư”, nghĩa là Đất nước bình yên.
Chữ An trong tiếng Hán viết là 安. Chữ này được ghép bởi bộ miên (宀) nghĩa là mái nhà và bộ nữ (女) nghĩa là người con gái. Người con gái ở trong nhà thì được an. Chữ An, vì vậy, có nghĩa là yên ổn.
Chữ Thư trong cụm từ “Quốc chi an thư” viết là 舒, có nghĩa là thư thái.
Năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – Đức Thánh Trần – trước khi mất hai tháng, đã tâu với vua Trần Anh Tông: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”. Chữ “Thư” trong “khoan thư sức dân” là chữ Thư này.
Chữ Thư trong tiếng Hán còn có một số nghĩa nữa.
Chữ Thư viết là 書, có nghĩa là sách, thư tín. Các cụ xưa viết: “Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”, nghĩa là “Vạn thứ đều là thấp, chỉ có đọc sách là cao”. Theo nghĩa này, “An Thư” hàm nghĩa yên ổn, cao quý.
Chữ Thư viết là 雌, có nghĩa là người con gái. Theo nghĩa này, “An Thư” hàm nghĩa người con gái bình yên.




