Rặng bằng lăng ùa tím mỗi mùa hè
Hàng phượng vĩ mãi buông chùm hoa lửa
Phượng cháy rực một khoảng trời nhung nhớ …
1. (1998 – 1999). KHỐI CHUYÊN SƯ PHẠM.
Mùa thu khai trường đến với tất cả chúng tôi, các cô cậu học sinh lớp 10 năm ấy, với đầy ắp những bỡ ngỡ, lạ lùng.
Đó là một buổi khai giảng không giống với bất cứ một buổi khai giảng nào khác mà chúng tôi đã từng trải qua. Không có một sân trường rộng, vuông vức, không có đồng phục và đặc biệt ít các bạn nữ. Một buổi lễ đơn sơ nhưng trang trọng.
Đặc biệt lắm – có một cảm xúc rất lạ trào dâng trong lòng tất cả chúng tôi: Tự hào. Không tự hào sao được khi kia là anh Vũ Việt Anh, kia là anh Lê Thái Hoàng … những người mà các cô cậu học trò yêu toán chúng tôi hằng ngưỡng mộ.
Chúng tôi ríu rít quanh các anh lớp 12 vừa ra trường và hỏi: “Anh ơi, sao năm nay trường mình không có giải Nhất quốc gia?”. Các anh cười hiền: “Thì còn chờ các em đấy”.
Một ngọn lửa khát vọng đã ngầm bùng cháy mãnh liệt trong lòng chúng tôi. Mãi sau này chúng tôi mới hiểu, ngọn lửa của sự tự hào đó là sự khác biệt lớn nhất: Chúng tôi đã chính thức trở thành những học sinh chuyên Toán, Khoá 32.
2. (1999 – 2000). THẦY CHÚNG TÔI.
Từ nơi đây, thầy cô đã dạy chúng tôi những bài học đầu tiên về cách đứng vững, tự tin và kiêu hãnh. Cũng từ nơi đây, chúng tôi được học cách khiêm tốn, chịu khó lắng nghe và học hỏi hơn nữa.
Chúng tôi nhớ lắm chứ những giờ học miệt mài bên những con số, những phương trình, những bất đẳng thức và cả những bài hình hóc búa. Toán học là sở thích chung của chúng tôi.
Toán học trong chúng tôi là thầy Doãn Minh Cường. Từ những ngày còn học ôn thi vào lớp 10, khi chúng tôi còn là những học sinh đến từ những mái trường cấp 2 khác nhau, thầy đã truyền cho chúng tôi một tinh thần cạnh tranh không khoan nhượng: “Vậy là học sinh Nguyễn Trường Tộ vừa giải bài này. Học sinh Trưng Vương, học sinh Giảng Võ đã lên tiếng trước đó. Vậy còn … còn học sinh Lê Quí Đôn đâu?”.
Toán học trong chúng tôi là thầy Nguyễn Đức Huy. Từ thầy, ngọn lửa và sự nhiệt tình của tuổi trẻ đã lan tỏa ngoài giới hạn của những phép tính, tiếp sức cho rất nhiều ban bè tôi sống xa nhà khi đó.
Toán học trong chúng tôi là thầy Nguyễn Minh Hà. Có lẽ ít ai trong chúng tôi quên được những giờ hình học và những lời bình đầy tính hài hước của thầy khi học trò run run lên bảng giải bài.
Toán học trong chúng tôi còn là thầy giáo chủ nhiệm Nguyễn Đức Hoàng, thầy Phan Văn Viện, thầy Kiều Huy Luân, thầy Nguyễn Đăng Phất … Nhiều lắm. Làm sao chúng tôi có thể tri ân hết công ơn dạy dỗ của các thầy giáo của mình?
Chúng tôi cũng nhớ lắm những giờ học Địa lý. Cô giáo chúng tôi vẫn bảo: “Đất nước chúng ta hình chữ S, trải dài hơn 1000 km, tài nguyên phong phú. Nhưng các em cần quên đi cụm từ “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”, đất nước chúng ta đang thua, đang tụt hậu trong cuộc đua hội nhập với thế giới các em ạ”. Cô ơi, lời dạy của cô khi xưa không thấm bao nhiêu vào trí tuệ non nớt của những học sinh lớp 11 chúng con lúc đó, nhưng nó đã cung cấp cho chúng con những hành trang tri thức mà đến bây giờ chúng con mới thực sự thấm thía.
Chúng tôi cũng nhớ lắm chứ giọng giảng bài sang sảng của “bố” Cương, người thầy giáo cao tuổi đáng kính. “Bố” đã “hát” cho chúng tôi nghe những chặng đường lịch sử vinh quang của dân tộc, những “tiểu đoàn 307”, những bản anh hùng ca của thế hệ cha anh – những người đã không tiếc hy sinh phần xương máu quý giá của mình cho chúng tôi được ăn, được học như ngày hôm nay.
“Đêm, cái đêm rút qua gầm cầu Anh, anh đã hẹn ngày mai trở lại Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca”
Thầy ơi, bài thơ thầy đọc khi xưa đã trở thành động lực và khát vọng giúp chúng con vượt qua những giây phút khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt khi rất nhiều người trong số chúng con mang hành trang lên đường xa tổ quốc để học hỏi tri thức từ những quốc gia văn minh khác.
Vậy đấy, dưới mái trường chuyên Sư Phạm, chúng tôi đã được dạy như thế. Chúng tôi khao khát học Toán, nhưng chúng tôi cũng được mài dũa về nhân cách, về khát vọng và mục đích sống. Có ai đó đã nhận xét về mái trường chúng tôi: “Những học sinh nghèo nhưng có chí và những người thầy tận tâm …”
3. (2000 – 2001) BẠN BÈ TÔI.
Dù muốn lắm, nhưng chúng tôi cũng không thể ở lại mãi nơi mái trường thân yêu. Thế là chỉ còn đúng một buổi nữa chúng tôi có cơ hội cắp sách đến lớp sáng sáng để gặp nhau.
Trong 3 năm cùng sống và trưởng thành bên nhau, có lẽ chưa bao giờ mỗi người trong chúng tôi lại có một cảm giác lạ đến vậy khi cắp sách tới trường.
Ngày hôm đó, chúng tôi không học gì – nhưng vẫn có những người bạn hẹn nhau đến trường từ 5 giờ sáng và nán lại đến 1h chiều , khi trường không còn ai nữa…. Đơn giản thôi, mọi người chỉ muốn kéo dài thêm chút nữa cái cảm giác mà trong suốt 3 năm qua, chưa bao giờ người ta thấy quý nó.
Sau một cuộc đi chơi lang thang từ 5h giờ sáng , 8h30, các bạn nữ lớp chúng tôi khẽ khàng bước vào lớp như thường lệ. Có lẽ , hôm nay là ngày duy nhất trong 3 năm học vừa qua, các cô bạn của chúng tôi đi học muộn.
Tôi vẫn nhớ, tôi đã gặp mấy thằng bạn cùng lớp hớt hải chạy ra ngoài, hình như chúng nó định đi hái bằng lăng. Cả lũ háo hức chạy từ Khối ra tận khu tập thể Sư Phạm để chọn lựa những cành bằng lăng đẹp nhất hái mang về. Tuy không ai nói với ai, nhưng tôi biết, nhiều người trong số chúng tôi muốn đem những cành bằng lăng tím sẫm kia về đặt vào chỗ của một bóng hồng nào đó trong lớp. Vậy mà vẫn không có một cành băng lăng nào ai tặng riêng cho ai cả !
Thế rồi chúng tôi ít gặp nhau hơn, kỳ thi tốt nghiệp PTTH và kỳ thi đại học qua đi, chúng tôi như đàn chim đã tung cánh bay vào xã hội, mỗi người tự đi tìm cho mình một khoảng trời riêng và những ước mơ riêng.
Cho đến bây giờ, tôi biết chắc chăn có những tình cảm vẫn âm ỉ cháy trong lòng một người con nào đó của lớp, nhưng cũng có những tình cảm trôi theo dòng chảy của thời gian, chỉ còn trong hoài niệm của riêng mỗi người.
Dù thế nào, tôi vẫn tin rằng chút rung cảm mỏng manh của cái thời hoa đỏ ấy sẽ đi theo chúng tôi suốt cả cuộc đời.
4. THAY LỜI KẾT.
Khi xưa, mái trường chuyên Sư Phạm đã chào đón chúng tôi bằng sự khác biệt. Ngày ra trường, chúng tôi hiểu rằng chúng tôi có nghĩa vụ phải xứng đáng với sự khác biệt đó.
Hoa phượng vẫn rực cháy trong lòng chúng tôi như đã cháy vào mùa hè năm 2001.
Và bằng lăng còn tím sẫm hơn ….
Tháng 12/2006 – Kỷ niệm 40 năm thành lập trường




