Trong nền học vấn cổ xưa dường như đã bị lãng quên, có những thứ đã không còn phù hợp, nhưng vẫn còn đó những viên ngọc có giá trị vượt thời gian. Một nền học vấn tốt là nền học vấn chắt lọc được những viên ngọc cổ xưa này, thêm những viên ngọc mới của thời đại.
1- Về hệ thống khoa cử:
Khi xưa, trong khoảng gần 1000 năm, từ năm 1075 đến năm 1919, Việt Nam chỉ có một hệ thống thi cử duy nhất để học làm người và để chọn người ra làm quan văn, gọi là khoa cử.
Hệ thống thi cử này chia ra làm 3 cấp, gọi là thi Hương – nôm na là thi địa phương, thi Hội – nôm na là thi quốc gia và thi Đình – nôm na là thi vòng cuối, ở sân đình của Nhà vua, để chọn những người tinh hoa.
Thi Hương khảo sát 4 kỹ năng (kinh thư – tức là kiến thức sách vở, chế biểu – tức là kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính, thơ phú – tức là kỹ năng làm thơ và văn sách – tức là kỹ năng viết văn nghị luận). Người đỗ qua 3 kỹ năng thì được gọi là Sinh đồ hoặc Tú tài, người đỗ cả 4 kỹ năng thì được gọi là Hương cống hoặc Cử nhân. Hương cống thì được tiếp tục tham gia thi Hội. Người đỗ đầu thì được gọi là Giải nguyên.
Thi Hội khảo sát 4 kỹ năng như thi Hương, nhưng ở tầm cao hơn. Người tiếp tục đỗ cả 4 kỹ năng này thì không được trao danh hiệu gì mới, nhưng được tiếp tục tham gia thi Đình. Người đỗ đầu thì được gọi là Hội nguyên.
Thi Đình thì khảo sát khả năng giải quyết vấn đề. Đề thi do trực tiếp Nhà vua đưa ra, thường là nghị luận về một vấn đề quan trọng của Đất nước, và trực tiếp Nhà vua chấm giải. Có một Hội đồng các học sĩ giúp việc cho Nhà vua. Ông vua nào anh minh thì thường tự làm việc này.
Nhà vua xét đỗ, không chỉ đọc bài thi, mà còn nhìn cả tướng mạo. Thế nên, có chuyện, một số sĩ tử làm bài tốt nhưng vì tướng mạo không được ưng ý Nhà vua nên bị đánh thấp xuống.
Chẳng hạn, ông Mạc Đĩnh Chi, bài điểm cao nhất, nhưng Nhà vua không ưng tướng mạo, nên định đánh thấp xuống. Tuy nhiên, ông Mạc Đĩnh Chi kịp thời ứng khẩu bài thơ Hoa sen trong giếng ngọc, qua đó thể hiện được tài năng và khí tiết thanh cao của mình, nên Nhà vua lại cho đỗ Trạng nguyên.
Kết quả thi Đình được phân thành 3 nhóm:
Đệ nhất giáp tiến sĩ, gồm 3 người đỗ đầu, gọi là Tam khôi, là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
Đệ nhị giáp tiến sĩ, thường gồm khoảng 12 người tiếp theo, gọi là Hoàng giáp.
Đệ tam giáp tiến sĩ, thường gồm khoảng 12 người tiếp theo, gọi là Tiến sĩ, dân gian còn gọi là ông Nghè.
Một số người xấp xỉ tiếp theo, có thể được cân nhắc, cho đỗ Phó Bảng, chẳng hạn Ông cụ thân sinh ra Hồ Chủ tịch.
Kỳ thi này không phân biệt tuổi tác, ai thích tham gia thi thì thi.
Vậy nên mới có Vũ Đình Thự đỗ Cử nhân năm 84 tuổi. Chẳng phải đây là học tập suốt đời hay sao?
Vậy nên mới có Nguyễn Hiền đỗ Trạng Nguyên năm 13 tuổi. Điều đặc biệt, Tam khôi thời Trần chuẩn bị đánh thắng giặc Nguyên Mông đều trẻ. Trạng nguyên Nguyễn Hiền 13 tuổi, Bảng nhãn Lê Văn Hưu 17 tuổi, Thám hoa Đặng Ma La 14 tuổi. Người ta giải thích là thời kỳ này tinh tú đua nhau hạ phàm ở đất Việt.
Những người đỗ đầu cả 3 kỳ thi được gọi là Tam nguyên. Trong gần nghìn năm khoa cử, số này đếm trên đầu ngón tay.
Những người đỗ Tam khôi thì được ghi tên trên Bảng vàng công bố cho toàn dân, đỗ Tiến sĩ trở lên thì được khắc tên lên Bia đá để lưu truyền sử sách.
2- Về hệ thống học vấn:
Hệ thống học vấn cổ xưa gồm 4 hệ thống kỹ năng, gọi là: Nho – Y – Lý – Số
Nho học cơ bản gồm Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử), Ngũ kinh (Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch và Kinh Xuân Thu), Bắc sử và Nam sử. Nho học là để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Y học cơ bản gồm Nội kinh, Nạn kinh, Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược. Ngoài ra, sau này, Việt Nam ta có một số bộ y học cơ bản như bộ Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, Y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác. Y học là để trị bệnh, cứu người.
Lý học cơ bản về phong thủy, địa lý. Tài liệu đã thất truyền nhiều, nhưng kinh điển thì có Hồng vũ cấm thư của Trung Quốc và Địa lý Tả ao của Việt Nam. Lý học để xây dựng, chôn cất.
Số học cơ bản là Kỳ môn, Độn Giáp, Tử vi, Nhân tướng. Số học là để hiểu người, hiểu số mệnh.
Nho học là học vấn để tham gia khoa cử. Nhưng những bậc được gọi là túc nho, thì tinh thông đều cả 4 môn.
3- Đôi điều suy ngẫm:
Trong nền học vấn cổ xưa dường như đã bị lãng quên, có những thứ đã không còn phù hợp, nhưng vẫn còn đó những viên ngọc có giá trị vượt thời gian. Một nền học vấn tốt là nền học vấn chắt lọc được những viên ngọc cổ xưa này, thêm những viên ngọc mới của thời đại.
Tôi vẫn đọc và cảm nhận rất rõ hồn văn, hồn thơ đẹp trong Kinh thi, vẫn thấy những giá trị của Kinh dịch, của Bắc sử, của Nam sử. Tôi cũng vẫn thấy giá trị của Y tông tâm lĩnh, của Địa lý Tả ao, của Tử vi và Nhân tướng học. Đây là những thứ kỹ năng mềm mà mỗi người chúng ta đều nên học và cần phải học. Chẳng hạn, tôi giật mình chợt nhận ra rằng ai cũng cần biết những kiến thức tối thiểu về dược tính của cỏ cây xung quanh mình.
Tôi cũng thấy sự hội tụ của Đạo học phương Đông và khoa học phương Tây, thấy sự giống nhau đáng kinh ngạc giữa Kinh Dịch và hệ nhị phân – nền tảng của khoa học máy tính.
Nếu chúng ta chỉ đơn thuần máy móc học khoa học phương Tây thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ sánh được với phương Tây.
Nhưng nếu chúng ta kết hợp nhuần nhuyễn được giữa đạo học phương Đông nghìn năm của tổ tiên chúng ta và khoa học phương Tây thì chúng ta sẽ có chỗ đứng của riêng mình trong sự phát triển của thế giới này.
Nghĩ về điều này, tôi giật mình nghĩ sang Trung Quốc và tìm kiếm thử.
Kết quả khá bất ngờ:
Ngay khi nắm quyền, ông Tập Cận Bình đã đến thăm Khúc Phụ quê hương của Khổng Tử – ông tổ Nho học.
Trung Quốc hiện nay bắt đầu triển khai mô hình gọi là Guoxue – “Quốc học” ở các trường, mà ở đó, những nhà sư phạm xuất sắc nhất chắt lọc những giá trị xưa cũ, và những giá trị mới của thời đại, để dạy cho học sinh.
Tự nhiên thấy thấm thía: Một trong những bài học quan trọng nhất rút ra từ lịch sử đó là sự tiến bộ của các quốc gia, con người và nền văn minh đều bắt đầu từ giáo dục.
Tương lai của các quốc gia bắt đầu từ các trường học của họ./.
22/5/2021




